Sinh học Lớp 10. So sánh phân giải hiếu khí–kị khí, lên men; liên hệ tổng hợp–phân giải và ứng dụng thực tiễn.
Kiến thức cần nhớ
**1. Phân giải và hô hấp tế bào**
Phân giải phá vỡ chất hữu cơ, giải phóng năng lượng và tạo chất trung gian. Hô hấp tế bào chuyển electron từ chất hữu cơ qua các phản ứng oxi hóa–khử để tạo ATP; không đồng nhất với động tác hít thở.
**2. Đường phân**
Đường phân diễn ra trong tế bào chất, biến một glucose thành hai pyruvate, tạo một lượng nhỏ ATP ròng và NADH. Đây là giai đoạn chung trước nhiều con đường hiếu khí hoặc lên men.
**3. Hô hấp hiếu khí**
Khi có oxygen và hệ enzyme phù hợp, pyruvate tiếp tục bị oxi hóa; chu trình Krebs và chuỗi truyền electron ở tế bào nhân thực chủ yếu liên quan ti thể. Oxygen là chất nhận electron cuối cùng, tạo nước.
**4. Hiệu suất năng lượng**
Hô hấp hiếu khí tạo nhiều ATP hơn lên men vì glucose được oxi hóa sâu hơn và chuỗi truyền electron khai thác phần lớn năng lượng. Số ATP thực tế có thể thay đổi theo loại tế bào và điều kiện, nên chỉ dùng con số khi đề quy ước rõ.
**5. Lên men**
Khi chuỗi truyền electron không hoạt động, lên men tái sinh $NAD^+$ để đường phân tiếp tục. ATP ròng của toàn quá trình đến từ đường phân; lên men không tạo thêm ATP ngoài phần này, nhưng nói “lên men không tạo ATP” là sai.
**6. Hai kiểu lên men quen thuộc**
- Lên men lactic: pyruvate nhận electron tạo lactate.
- Lên men alcohol: pyruvate tạo ethanol và $CO_2$.
Cả hai giúp tái sinh $NAD^+$; sản phẩm và sinh vật thực hiện khác nhau.
**7. Hô hấp kị khí không đồng nhất lên men**
Hô hấp kị khí vẫn dùng chuỗi truyền electron nhưng chất nhận cuối không phải oxygen. Lên men không dùng chuỗi truyền electron. Nếu chương trình chỉ yêu cầu mức khái quát, vẫn phải giữ ranh giới này khi giải thích.
**8. Thực vật cũng hô hấp**
Tế bào thực vật hô hấp cả ngày lẫn đêm để tạo ATP. Quang hợp tích lũy năng lượng còn hô hấp huy động năng lượng; hai quá trình có thể đồng thời xảy ra khi có ánh sáng.